[Sưu tầm] Các cách xưng hô về tuổi ở cổ đại

Vâng, như mọi khi, một bài sưu tầm nữa đã được “Đẻ” ra trong quá trình dịch “Tân Đường Di Ngọc”. Khổ thân tui. Tui ghét cái tính khoái “Đẻ” của tui.

Các cách xưng hô về tuổi ở cổ đại

Nguồn: Baike
Dịch & Biên tập: Grey Phan @ greyphan.wordpress.com
Vui lòng ko mang ra khỏi blog. Cảm ơn ^__^

***

Hán Việt/ Tiếng Việt:

Cưỡng bão/ Tã lót: Sơ sinh, chưa đầy 1 tuổi

Hài để/ Nhi đồng: 2- 3 tuổi

Thủy sấn, thiều niên/ Bắt đầu thay răng, tuổi tóc trái đào: Dùng để chỉ bé gái 7 tuổi. Khi bé gái còn nhỏ chưa có búi tóc, chỉ để hai bên xõa tự nhiên rủ xuống, nên còn gọi là “Thùy thiều chi niên”. “Thiều” có nghĩa là “Rũ xuống”.chữ “Thiều” (髫) còn có nghĩa là “Tóc trái đào”. Chữ (髫) cấu tạo từ nghĩa và hình của 1 số chữ tạo thành (Grey thấy k liên quan nên lược), diễn giải ra ý nghĩa của chữ (髫) là: Tóc rủ xuống của trẻ con. Bản thân chữ đã có ý nghĩa như thế. Còn hình dáng có liên quan tới trái đào hay ko thì G bó tay. Bởi vì tóc trái đào thường là cho bé trai để, cạo hết chỉ chừa hai cái vá hai bên, giống giống kiểu tóc ba vá của trẻ em Việt Nam hồi xưa. Mà “Thiều niên/tuổi tóc trái đào” lại chỉ dùng xưng cho bé gái.

Thủy sấn, điều niên/ Bắt đầu thay răng, tuổi thay răng sữa: “Điều” (龆) với “Thiều” (髫) tuy mặt chữ khác nhưng đồng âm [tiáo] nên cũng khi đọc cũng bị hiểu là tóc rũ xuống, nhưng chữ “Điều” cũng có nghĩa là “Thay răng sữa” nên chữ này lại được dùng để chỉ bé trai 7 tuổi.

Tổng giác/ Tóc để chỏm: Gọi chung tuổi nhỏ.

Thùy kế chi niên: Đây là cách gọi khác của chữ “Thùy thiều chi niên” phía trên, gọi chung trẻ em, còn dùng để chỉ những người chưa thành niên.

Hoàng khẩu/ Miệng trẻ con (Lời trẻ con): Trẻ em dưới 10 tuổi. Cổ đại gọi trẻ con là “Hoàng”, thời Tùy lấy trẻ con chưa tròn ba tuổi xưng là “Hoàng”, thời Đường lại lấy trẻ con vừa sinh xưng là “Hoàng”. Sau này, trẻ con dưới 10 tuổi đều gọi chung là “Hoàng khẩu”. Hoàng khẩu ý chỉ “Miệng chim non”.

Ấu học: 10 tuổi.

Kim sai chi niên/ Tuổi cài trâm: Bé gái 12 tuổi.

Đậu khấu niên hoa/ Tuổi dậy thì: Bé gái 13 tuổi

Chí học: Con trai 15 tuổi. Xuất từ một câu trong Luận Ngữ của Khổng Tử: “Ngô thập hữu ngũ mà chí vu học…”

Cập kê: Con gái 15 tuổi. Con gái 15 tuổi bắt đầu cài trâm búi tóc.

Bích Ngọc niên hoa, phá qua chi niên: Con gái 16 tuổi. Giải thích chi tiết ở đây.

Nhược quán: Chàng trai 20 tuổi. Thời xưa đàn ông 20 đều làm lễ đội mũ (quán), xem như thành niên, nhưng cơ thể còn chưa có tráng kiện, tương đối niên thiếu, nên xưng là “Nhược”.

Đào lý niên hoa/ Đào mận niên hoa: Thiếu nữ 20 tuổi.

Hoa tín niên hoa/ Mùa hoa niên hoa: Phụ nữ 24 tuổi. Chỉ phụ nữ 24 như mùa hoa nở, cũng có ý chỉ người phụ nữ đang ở thời kỳ trẻ trung đẹp đẽ chín mùi nhất.

Nhi lập: đàn ông 30 tuổi. Trích trong câu: Tam thập nhi lập.

Bất hoặc: 40 tuổi. Cũng xuất xứ từ Luận Ngữ “Bốn mươi mà bất hoặc”. Về sau dùng “Bất hoặc” gọi thay 40 tuổi. Cũng chỉ gặp chuyện có thể hành xử lễ độ, nhưng chưa chắc có thể hoàn toàn hiểu rõ, có thể khống chế tốt cảm xúc biến hóa. Bất hoặc là đối với nhân nghĩa lễ có hoàn toàn hiểu rõ, đạt tới trí giả cảnh giới.

Thiên mệnh: 50 tuổi.

Tri phi chi niên/ Tuổi “biết không phải”: 50 tuổi. Xuất xứ từ điển cố về một người tên Bá Ngọc, sống đến 50 tuổi mới biết 49 năm đã qua sống giữa sai lầm. Đời sau vì vậy mà dùng “Biết không phải” gọi thay tuổi 50.

Nhĩ thuận, hoa giáp chi niên: 60 tuổi. TQ dùng thiên, can, địa, chi lẫn nhau tương hợp ghi năm, tuổi 60 trùng vào can chi vì vậy gọi “Lục thập (60) hoa giáp” nên thành xưng thay tuổi 60.

Tất cả các chữ “Chí học”, “Nhi lập”, “Bất hoặc”, “Thiên mệnh”, “Nhĩ thuận” đều trích từ Luận Ngữ của Khổng Tử: “Ngô thập hữu ngũ (15) mà chí vu học, tam thập (30) nhi lập, tứ thập (40) mà bất hoặc, ngũ thập (50) mà biết thiên mệnh, lục thập (60) mà nhĩ thuận, thất thập (70) mà tùy thích, không vượt qua.”

(Mấy câu ngắn trong câu trên của Khổng Tử, bg 1 số thành thành ngữ hết. À mà, tam thập nhi lập là thành ngữ chỉ ng đến 30 có thể gánh vác, trưởng thành chứ ko phải là đến 30 là lập gia đình sanh con nha ==!)

Cổ hi: 70 tuổi. Trích trong thơ Đỗ Phủ “Nhân sinh thất thập cổ lai hi. “Hi”: thưa thớt. Ý nói người đến 70 từ cổ tới nay liền không nhiều gặp. Câu này còn có nghĩa cảm thán về người làm chính trị nữa.

Hỉ thọ: Nam 77 tuổi

Mạo điệt: Già trên 80 tuổi.

Mễ thọ: Nam 88 tuổi

Thai bối: Nam 90 tuổi

Bạch thọ: Nam 99 tuổi

Kỳ di: Nam 100 tuổi

Trà thọ: Nam 108 tuổi

Hoa giáp trọng khai: 120 tuổi

Thất tuần song khánh: 140 tuổi.

Oa oa oa, cuối cùng cũng xong, ta phục ta quá, ta cũng hãi ta quá T____T. Sao ta rảnh thế, híc híc.

Advertisements

15 thoughts on “[Sưu tầm] Các cách xưng hô về tuổi ở cổ đại

  1. Pingback: Tân Đường Di Ngọc – Chương 73 | ♥ Nàng Xám ~ 如水 ♥

  2. tddn

    Lúc đọc convert thì mình cũng hiểu đại khái thôi, nhưng mà cũng không để ý là có nhiều xưng hô khác biệt như vậy.
    À mà mình muốn biết “đấu lạp” là cái gì mà đàn ông phải đội? khác gì với mũ mão?
    Còn trong truyện TDDN, “ánh mắt vi tránh” của LT mà bạn từng nhắc tới bên TTV có nghĩa gì?
    Mình đoán là chớp mắt mà k biết có đúng k 🙂

    Reply
    1. Như Thủy Post author

      Đấu lạp là cái mũ mà có cái màn sa che kín mặt phủ xuống dưới cổ, phía trên có cái lỗ để lòi cái búi tóc ra đó bạn.

      Mũ mão, hay cái “Quan” là cái mũ vải đội trên đầu. Tùy thời đại mà nó là cái mũ vải, hoặc là cái trụ vòng bó quanh cái búi tóc, có cái trâm gắn qua hoặc đính dính lên búi tóc nha.

      Còn cái “Ánh mắt vi tránh”, chữ “Vi” là khẽ, né. Đại khái là miêu tả ánh mắt né tránh nhưng che giấu, đại loại như lén lút né tránh ý.

      Reply
  3. Pingback: Tân Đường Di Ngọc – Chương 105 | ❀Grey Corner ~ Nàng Xám❀

    1. Nàng Xám Post author

      Hắn / nàng cũng như he / she và him/ her trong tiếng anh thôi b.
      Tùy ngũ cảnh, bối cảnh hoặc tình huống mà mình tùy chỉnh: anh / cô, anh ấy (ta)/ cô ấy (ta), ông / bà, em ấy…
      Trong nhìu truyện có tình huống khác thì hắn còn dc dịch là “y”.

      Reply
      1. Nàng Xám Post author

        Cổ đại thì khi chỉ ngôi thứ 3 cho nữ, b có thể dùng “cô”, “nàng ấy/ta/kia” để phân biệt với nữ chính. Tùy nữ phụ là phản diện hay ngữ cảnh cũng có thể dùng “ả”. Vd nữ phụ đang nói về nữ chính thì dùng ả cho nữ 9 cũng k có j sai mà còn làm phong phú hơn. Từ cho nam thì dùng “chàng ấy/ta”, ng già thì dùng “ông ta/ lão ta”. Tránh dùng anh/em/ chị là dc rồi.

  4. accelxlastorder3108

    Thái tử điện hạ sắc mặt lập tức thay đổi, “Văn Nhân Dịch, ngươi có ý tứ gì?” Văn Nhân Dịch ám vệ người bình thường căn bản không là đối thủ, huống chi hiện tại nhân gia bên kia nhân còn hơn một nửa, hắn cùng Mộ lâu chủ giao dịch thời điểm, Văn Nhân Dịch không có ra tiếng ngăn cản, nghĩ đến căn bản chính là vì làm cho người khác tài hai không.

    Từ hai không ở cuối nghĩa là gỉ vậy bạn?

    Reply

Viết gì đó cho bạn Grey ih: ≧▽≦ (─‿‿─) ✿◕ ‿ ◕✿ ❀◕ ‿ ◕❀ (ノಠ益ಠ)ノ (◡‿◡✿)  (✿◠‿◠) ≥^.^≤  (>‿◠)✌ ٩(●̮̮̃•)۶ ≧◠◡◠≦✌  ≧'◡'≦  ≧◔◡◔≦  ≧◉◡◉≦ ≧✯◡✯≦  ≧❂◡❂≦  ≧^◡^≦  ≧°◡°≦ ᵔᴥᵔ  (°⌣°)  ٩(^‿^)۶ ٩(͡๏̮͡๏)۶ (>‿♥)  ♥‿♥ ◙‿◙  ^( ‘‿’ )^ 乂◜◬◝乂 (▰˘◡˘▰)  ಠ_ృ ಥ_ಥ ►_◄ (╥﹏╥) ( つ﹏╰) (─‿‿─) 凸(¬‿¬)凸 ◤(¬‿¬)◥ (∪ ◡ ∪) ▧.▨ (*^ -^*) •(⌚_⌚)• !⑈ˆ~ˆ!⑈ ō_ō ╚(•⌂•)╝ (-’๏_๏’-)

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s